25 06-2020
334
HANABI - LỄ HỘI PHÁO HOA ĐẶC TRƯNG CỦA MÙA HÈ NHẬT BẢN
Hanabi (花火) nghĩa là pháo hoa Nhật Bản, được xem là một trong những loại hình pháo hoa đẹp nhất thế giới. Nhắc đến mùa hè Nhật Bản, người ta sẽ nhớ về lễ hội pháo hoa Hanabi, về những bộ Yukata đã trở thành một phần “máu thịt” trong văn hóa bản địa.
Câu chuyện lịch sử
 
Có giả thuyết cho rằng, người đầu tiên nhìn thấy pháo hoa ở Nhật Bản là Tướng quân Tokugawa Ieyasu (1543-1616). Tháng 8 năm 1613, trong một chuyến thăm Nhật Bản, phái viên Anh của Vua James I và một thương nhân người Hoa đã dành tặng cho tướng quân Tokugawa một món quà là màn trình diễn pháo hoa, khiến ông vô cùng thích thú. Từ đó, pháo hoa nhanh chóng trở nên phổ biến với các lãnh chúa ở Edo. Năm 1733, vị tướng quân thứ tám Tokugawa Yoshimune đã tổ chức Lễ hội Thần nước trên sông Sumida và bắn pháo hoa như một cách tri ân linh hồn một triệu người đã chết vì nạn đói do mất mùa, dịch hạch và dịch tả. Lễ hội này như một cách vực dậy tinh thần của người dân Nhật Bản vượt lên những khó khăn. Do đó nó vẫn tồn tại đến ngày nay với tên gọi Lễ hội pháo hoa sông Sumida. 

Nếu nhìn vào ukiyo-e (tranh khắc gỗ của Nhật Bản), bạn sẽ thấy Hanabi được mô tả chỉ bằng một màu đỏ cam. Đến thời Minh Trị, nhờ du nhập màu sắc từ nước ngoài, màu sắc của pháo hoa Nhật Bản mới trở nên đa dạng hơn. 

Những âm thanh được tạo ra từ pháo hoa quốc tế thường sẽ vang dội hệt như một vụ nổ lớn. Nhất là ở các quốc gia như Ý và Tây Ban Nha, họ sẽ cảm thấy không “đã tai” nếu như không nghe thấy âm thanh vang to. Pháo hoa ở Nhật lại khác, bằng cách sử dụng âm thanh như tiếng huýt sáo, một khoảng lặng giữa ánh sáng và âm thanh sẽ được tạo ra. Điều này khiến người xem bị thu hút và tò mò dự đoán về những gì sẽ xảy ra tiếp đến. Thế mới thấy, Hanabi không chỉ mang ý nghĩa giải trí mà còn là cả một nghệ thuật.
 
Lễ hội pháo hoa Nhật Bản Hanabi
Hanabi trong tâm thức người Nhật
 
Cắt nghĩa từng kí tự của Hanabi, có hana (hoa), có bi (lửa). Về cơ bản, trong Hanabi đã mang một phần ý nghĩa của loài hoa: đẹp là thế, nhưng cũng chóng nở sớm tàn. Trong tâm thức của người Nhật, vốn đã chịu ảnh hưởng rất sâu sắc bởi bi cảm (aware) của văn hóa truyền thống cùng cảm giác vô thường (mujo) của Phật Giáo, vẻ đẹp càng mỏng manh, ngắn ngủi lại càng đáng trân trọng.
Cuộc đời đẹp như một đóa hoa nhưng cũng vô thường như tia sáng mỏng manh phát ra từ senko-hanabi vậy. Những tia pháo chỉ vụt sáng trong phút chốc rồi tàn lụi, tuổi trẻ của đời người rực rỡ rồi cũng sẽ qua đi. Duy chỉ những kỉ niệm đẹp là còn mãi. Nếu không tìm hiểu về ý nghĩa sâu xa của Hanabi, sẽ thật khó để lí giải được vì sao Hanabi lại trở thành một nét văn hóa mùa hè được người Nhật trân trọng và gìn giữ đến bây giờ. 

4 loại pháo hoa phổ biến ở Nhật Bản
 
  • Pháo hoa Warimono
Warimono (割物) là loại pháo hoa nổ bung dạng tròn, tia nổ có dạng như ánh sao. Hình dạng phổ biến nhất của loại pháo hoa này là hoa cúc hoặc hoa mẫu đơn.
Pháo hoa Warimono
  • Pháo hoa Pokamono
Pháo hoa Pokamono (ポカ物) thường phát ra âm thanh khi nổ và tàn pháo có thể tỏa ra nhiều hướng ngẫu nhiên hoặc như đang "chảy" xuống bầu trời. Hai hình ảnh nổi tiếng của pháo Pokamono là hình cây liễu (yanagi) và hình tổ ong (hachi).
 
Pháo hoa Pokamono
  • Pháo hoa Hanwarimono
Pháo hoa Hanwarimono (半割物) có chữ "半" (bán) trong tiếng Nhật nghĩa là một nửa. Do vậy, loại pháo hoa Hanwarimono chính là kiểu pháo kết hợp của 1 nửa pháo warimono và 1 nửa pháo pokamono. Tiểu thể loại Senrin được xem là một dạng của loại pháo Hanwarimono, Senrin tạo ra một bông pháo lớn bởi những bông pháo nhỏ.
 
Pháo hoa Hanwarrimono
  • Pháo hoa Katamono
Katamono (型物) là một trong những loại pháo hiện đại nhất bởi sau khi rực sáng trên bầu trời, tàn pháo của Katamono tạo ra những hình ảnh quen thuộc như mặt cười, trái tim hoặc các con vật.
 
Pháo hoa Katamono
Nguồn Kilala